Trong hệ tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa không phải là lĩnh vực phụ trợ cho chính trị hay kinh tế, mà là một trụ cột cấu thành sức mạnh quốc gia. Người nhìn văn hóa như nền tảng tinh thần của xã hội, là môi trường hình thành nhân cách con người, là không gian bảo tồn bản sắc dân tộc và đồng thời là nguồn lực chiến lược tạo nên vị thế quốc gia trong trật tự thế giới. Từ đó, hình thành một tư duy rất hiện đại: sức mạnh của dân tộc không chỉ đến từ quyền lực cứng như quân sự hay kinh tế, mà còn đến từ sức mạnh mềm văn hóa.

Hồ Chí Minh tiếp cận văn hóa không theo nghĩa hẹp của lễ nghi, phong tục hay di sản, mà theo nghĩa rộng: văn hóa là toàn bộ đời sống tinh thần, đạo đức, trí tuệ, lối sống và giá trị xã hội của một dân tộc. Văn hóa không tồn tại ngoài đời sống, mà thấm vào mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, giáo dục, đạo đức, hành vi xã hội và quan hệ con người. Vì vậy, xây dựng văn hóa không phải là bảo tồn hình thức, mà là kiến tạo nền tảng tinh thần cho phát triển quốc gia.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa dân tộc là bản sắc tồn tại của Việt Nam. Một dân tộc có thể mất lãnh thổ, mất chính quyền, nhưng nếu còn văn hóa thì còn khả năng tái sinh. Văn hóa chính là “bộ gen xã hội” của dân tộc, là hệ mã giá trị giúp cộng đồng duy trì căn tính, bản lĩnh và sức đề kháng trước đồng hóa. Vì vậy, bảo vệ văn hóa không chỉ là bảo tồn truyền thống, mà là bảo vệ khả năng tồn tại lâu dài của dân tộc.

Tuy nhiên, Hồ Chí Minh không xây dựng một mô hình văn hóa khép kín. Văn hóa dân tộc trong tư tưởng của Người không phải là “pháo đài bản sắc” đóng cửa với thế giới, mà là một bản sắc mở. Việt Nam phải giữ bản sắc, nhưng không cô lập. Phải bảo tồn giá trị cốt lõi, nhưng không từ chối văn minh nhân loại. Văn hóa dân tộc không đối lập với văn hóa thế giới, mà đối thoại, tiếp biến và làm giàu chính mình qua giao lưu toàn cầu.

Đây chính là cấu trúc của văn hóa hội nhập: giữ căn tính – mở giao lưu – làm giàu giá trị. Bản sắc không phải là bảo tồn tĩnh, mà là quá trình động, trong đó dân tộc vừa giữ mình, vừa phát triển mình, vừa nâng cấp mình trong dòng chảy văn minh nhân loại.

Từ nền tảng đó, hình thành khái niệm sức mạnh mềm Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Sức mạnh mềm không đến từ áp đặt, cưỡng chế hay bạo lực, mà đến từ sự hấp dẫn của giá trị, văn hóa, hình ảnh quốc gia và mô hình phát triển. Một quốc gia được tôn trọng không chỉ vì mạnh, mà vì đáng tin, đáng học hỏi và đáng hợp tác.

Hồ Chí Minh hiểu rất rõ rằng, trong quan hệ quốc tế, hình ảnh quốc gia có giá trị chiến lược không kém sức mạnh quân sự hay kinh tế. Một dân tộc có văn hóa nhân văn, đạo lý, chính nghĩa, khoan dung và tiến bộ sẽ tạo ra uy tín đạo đức quốc tế, từ đó hình thành sức mạnh ảnh hưởng tự nhiên. Đây là dạng quyền lực không cần cưỡng ép, nhưng có sức lan tỏa bền vững.

Văn hóa trong tư tưởng Hồ Chí Minh vì thế trở thành công cụ vị thế quốc gia. Văn hóa tạo ra hình ảnh Việt Nam như một dân tộc yêu hòa bình, trọng nghĩa, trọng nhân, kiên cường, nhân văn và có khát vọng phát triển. Đây chính là nền tảng của thương hiệu quốc gia Việt Nam trong nhận thức thế giới.

Sức mạnh mềm Việt Nam không được xây dựng bằng tuyên truyền hình thức, mà bằng chất lượng văn hóa xã hội. Cách con người Việt Nam sống, lao động, ứng xử, hợp tác, sáng tạo và hội nhập chính là hình ảnh quốc gia. Mỗi công dân trở thành một “đại sứ văn hóa”, mỗi cộng đồng trở thành một không gian lan tỏa giá trị Việt Nam ra thế giới.

Trong cấu trúc đó, văn hóa không chỉ là di sản, mà là nguồn lực phát triển. Văn hóa tạo ra du lịch, sáng tạo công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo, thương hiệu quốc gia, sức hút đầu tư, hợp tác quốc tế và vị thế mềm trong quan hệ toàn cầu. Đây là tư duy rất hiện đại: văn hóa không tiêu dùng ngân sách, mà tạo ra giá trị kinh tế và chiến lược.

Hồ Chí Minh cũng đặt văn hóa trong mối quan hệ trực tiếp với con người. Văn hóa không tồn tại độc lập, mà sống trong nhân cách con người. Vì vậy, xây dựng văn hóa dân tộc chính là xây dựng con người Việt Nam mới. Con người có văn hóa tạo ra xã hội có văn hóa; xã hội có văn hóa tạo ra quốc gia có sức mạnh mềm.

Điều này hình thành một logic chiến lược: muốn có sức mạnh mềm quốc gia, phải xây dựng nền tảng văn hóa xã hội. Không thể có hình ảnh quốc gia đẹp nếu xã hội thiếu đạo đức, thiếu kỷ cương, thiếu nhân văn. Không thể có uy tín quốc tế nếu nội tại quốc gia bất ổn về giá trị.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện đại, khi cạnh tranh quốc gia chuyển sang cạnh tranh hình ảnh, thương hiệu, ảnh hưởng và mô hình phát triển, tư tưởng này càng trở nên thời sự. Quốc gia không chỉ cạnh tranh bằng GDP, mà cạnh tranh bằng sức hấp dẫn văn hóa, mô hình sống, giá trị xã hội và năng lực truyền cảm hứng.

Việt Nam chỉ có thể nâng cao vị thế nếu không chỉ mạnh về kinh tế, mà còn mạnh về văn hóa; không chỉ giàu về vật chất, mà còn giàu về giá trị; không chỉ phát triển nhanh, mà còn phát triển bền vững về tinh thần.

Từ tư tưởng Hồ Chí Minh, có thể thấy rõ một mô hình phát triển quốc gia hiện đại: kinh tế tạo nền tảng vật chất, chính trị tạo khung ổn định, còn văn hóa tạo chiều sâu và bản sắc phát triển. Quốc gia không chỉ tồn tại bằng quyền lực, mà tồn tại bằng giá trị.

Văn hóa dân tộc và sức mạnh mềm trong tư tưởng Hồ Chí Minh vì thế không chỉ là di sản tư tưởng, mà là chiến lược vị thế quốc gia cho Việt Nam thế kỷ XXI. Một Việt Nam hùng cường không chỉ là Việt Nam giàu mạnh, mà là Việt Nam có bản sắc, có giá trị, có ảnh hưởng và có uy tín trong cộng đồng quốc tế.

Sức mạnh mềm Việt Nam, xét đến cùng, không đến từ hình ảnh được quảng bá, mà đến từ chất lượng văn minh của xã hội Việt Nam. Và chính tư tưởng Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho một mô hình quốc gia như vậy: quốc gia phát triển bằng kinh tế, bền vững bằng văn hóa, và trường tồn bằng giá trị.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *